Tôi tìm lại chứng chỉ hành nghề y của bố và bằng tốt nghiệp trường y của tôi — cũng may, hồi đó không nghe lời người nhà họ Lục đem vứt mấy thứ này đi.
Thành phố Vân Châu không lớn, nhưng phòng khám Đông y thì có khá nhiều.
Tôi đến từng nơi hỏi xem họ có cần bác sĩ ngồi khám không.
Đa số đều khéo léo từ chối, cho đến khi tôi đi đến “Nhân Hòa Đường” ở phía Tây thành phố.
Người ngồi khám là một lão tiên sinh hơn sáu mươi tuổi, họ Tần, đang đeo kính lão bắt mạch cho bệnh nhân.
Đợi bệnh nhân đi khỏi, tôi mới bước lên trình bày mục đích đến đây.
Thầy Tần xem qua bằng cấp của tôi, rồi bảo tôi viết thử vài đơn thuốc.
“Nền tảng vững chắc,” ông gật đầu, “Nhưng thiếu kinh nghiệm. Thế này đi, cô cứ theo tôi xem bệnh trước, thử việc ba tháng, lương không cao, có đồng ý không?”
“Cháu đồng ý!” Tôi vội vàng nhận lời.
Có nơi thu nhận, đã là vạn hạnh rồi.
Từ đó, mỗi buổi sáng, tôi đạp xe đến Nhân Hòa Đường.
Thầy Tần ít nói, nhưng dạy rất tận tâm. Từ vọng văn vấn thiết (nhìn, nghe, hỏi, bắt mạch) đến nhận biết dược liệu, từ cách gia giảm bài thuốc cổ phương đến châm cứu xoa bóp, ông đều dốc lòng truyền thụ.
Tôi cũng học hành vô cùng nghiêm túc, giống như muốn bù đắp lại cả năm năm thanh xuân đã hoài phí.
Ba tháng trôi qua rất nhanh.
Cuối tháng, thầy Tần đưa cho tôi một phong bì: “Được nhận chính thức rồi. Sau này thứ Hai, Tư, Sáu cô ngồi khám, thứ Ba, Năm, Bảy thì theo tôi học thêm, Chủ nhật nghỉ.”
Tôi cầm chiếc phong bì, hốc mắt nóng lên.
“Cháu cảm ơn thầy.”
Thầy Tần xua tay: “Là tự cô cố gắng thôi. Nhưng Vũ Vi này,” ông khựng lại, “Trên người cô có một loại khí chất, giống như đang kìm nén một hơi thở. Người hành y, tâm phải tĩnh, khí phải thuận.”
Tôi ngẩn người, rồi gật đầu thật mạnh.
Tối hôm đó, tôi đứng trước gương nhìn rất lâu.
Người phụ nữ trong gương vẫn gầy, nhưng má đã có chút huyết sắc, đôi mắt cũng đã có ánh sáng.
Tôi mỉm cười với người trong gương:
“Khương Vũ Vi, bắt đầu lại thôi.”
—
Ngày tháng trôi qua êm đềm như dòng suối nhỏ.
Khi tôi ngồi khám ở Nhân Hòa Đường được nửa năm, tôi đã có thể tự mình xử lý không ít bệnh thông thường.
Bà con hàng xóm biết tôi là con gái của bác sĩ Khương, cũng sẵn lòng tìm đến tôi khám bệnh.
Một buổi chiều thứ Tư, trời mưa rất to.
Trong phòng khám không có mấy bệnh nhân, tôi đang sắp xếp lại đơn thuốc thì chợt nghe tiếng bước chân dồn dập.
“Bác sĩ! Bác sĩ có ở đây không?!”
Lao vào là một thiếu niên ướt sũng, trong lòng bế một bé gái.
Cô bé trạc bảy tám tuổi, sắc mặt nhợt nhạt, nhịp thở dồn dập.
“Con bé bị sao vậy?” Tôi lập tức đứng dậy.
“Ngã từ trên cầu thang xuống, đầu đập vào bậc thang, giờ gọi không tỉnh…” Giọng thiếu niên run rẩy, nước mưa men theo mái tóc cậu rỏ xuống mặt cô bé.
Tôi đặt cô bé nằm phẳng trên giường khám, kiểm tra đồng tử, nhịp tim, nhịp thở.
“Va đập vào đầu bao lâu rồi?”
“Khoảng… nửa tiếng.” Cậu thiếu niên đưa tay quệt mặt, “Nhà em ngay phố bên cạnh, em chạy bộ sang đây.”
Tôi nhanh chóng châm cứu cầm máu, rồi cho uống một viên An Cung Ngưu Hoàng Hoàn.
“Phải đưa đến bệnh viện chụp CT, có thể bị xuất huyết não.”
Sắc mặt cậu bé càng trắng bệch: “Em không có tiền…”
“Cứu mạng trước đã.” Tôi gọi 120 (cấp cứu), rồi gọi điện cho thầy Tần nói rõ tình hình.
Trước khi xe cấp cứu đến, tôi luôn túc trực bên cạnh cô bé. Thiếu niên đứng bên cạnh, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm.
“Em tên gì?” Tôi hỏi.
“Lâm Dã.” Cậu khàn giọng nói, “Đây là em gái em, Lâm Nguyệt.”
“Bố mẹ đâu?”
“Không còn.” Cậu nhả ra hai chữ, nhất quyết không chịu nói thêm.
Xe cấp cứu đến, tôi đi cùng họ đến bệnh viện.
Kết quả kiểm tra có ngay — tụ máu dưới màng cứng, cần phẫu thuật lập tức.
Khi đèn đỏ phòng phẫu thuật sáng lên, Lâm Dã dựa lưng vào tường trượt ngồi xuống đất.
